
Khi ai đó nói "căn này cho thuê được 8% một năm", họ gần như luôn đang lấy tiền thuê cả năm chia cho giá mua. Đó là con số gộp, và khoảng cách giữa nó với số tiền thật sự vào túi bạn thường lớn hơn nhiều người tưởng — ở nhiều trường hợp, phần chênh ăn hết một nửa.
Phép tính đúng không khó, chỉ cần làm đủ. Dưới đây là mười khoản phải trừ, xếp theo mức độ hay bị bỏ sót.
| Khoản | Hay bị bỏ sót vì |
|---|---|
| 1. Tỷ lệ trống | Ai cũng giả định cho thuê liên tục 12 tháng. Thực tế luôn có khoảng trống giữa hai khách. |
| 2. Phí môi giới tìm khách | Lặp lại mỗi lần đổi khách, không phải chi phí một lần |
| 3. Bảo trì định kỳ | Sơn, chống thấm, thiết bị điện nước — chi phí nhỏ nhưng đều |
| 4. Sửa chữa lớn | Không xảy ra hằng năm nên không ai trích trước, rồi tới lúc phải chi một khoản lớn |
| 5. Phí quản lý toà nhà | Với chung cư, đây là khoản cố định đáng kể |
| 6. Thuế và phí liên quan | Nghĩa vụ thuế với thu nhập cho thuê thường bị bỏ ra ngoài bảng tính |
| 7. Chi phí nội thất khấu hao | Đồ đạc cho thuê xuống cấp nhanh hơn đồ nhà mình dùng |
| 8. Thời gian của chính bạn | Nếu tự quản, đây là chi phí thật dù không xuất hoá đơn |
| 9. Nợ xấu từ khách thuê | Khách bỏ đi còn nợ, hoặc để lại hư hỏng vượt tiền cọc |
| 10. Lãi vay nếu có | Thường được tính, nhưng hay quên phần lãi thay đổi theo chu kỳ |
🔴 Một tài sản có thể có lợi suất ròng tốt mà dòng tiền âm, nếu vay quá nhiều. Ngược lại, một tài sản dòng tiền dương nhờ mua bằng tiền mặt vẫn có thể là tài sản kém, nếu số vốn đó đặt chỗ khác sinh lời hơn.
Chủ tài sản thường không nhận ra vì phần lỗ được bù bằng kỳ vọng tăng giá. Cách nghĩ này không sai về nguyên tắc — nhiều nhà đầu tư chấp nhận dòng tiền mỏng để đổi lấy tăng giá dài hạn. Nhưng nó trở nên nguy hiểm khi:
Trước khi mua bất kỳ tài sản cho thuê nào, điền bảng này. Nếu không điền được vì thiếu thông tin, đó cũng là một câu trả lời.
| Mục | Cách ước |
|---|---|
| Tiền thuê tháng | Giá thuê thật của căn tương đương đang có khách, không lấy giá rao |
| Số tháng có khách mỗi năm | Hỏi môi giới khu vực về thời gian trống trung bình |
| Chi phí vận hành năm | Cộng đủ mười khoản ở trên |
| Vốn thật bỏ ra | Giá mua cộng thuế phí chuyển nhượng, sửa chữa ban đầu, nội thất |
| Nghĩa vụ nợ năm | Tính ở mức lãi suất cao hơn hiện tại một khoảng an toàn |
Ba tín hiệu đáng cân nhắc, không phải ba mệnh lệnh:
Con số thay đổi theo khu vực và phân khúc, nên cách chắc chắn là hỏi vài môi giới đang hoạt động ở đúng khu đó về thời gian trung bình từ lúc khách cũ đi tới lúc khách mới vào, rồi lấy mức thận trọng hơn mức họ nói.
Đáng khi bạn có nhiều tài sản hoặc ở xa, vì họ giảm thời gian trống và xử lý sự cố nhanh hơn. Cần so phí họ thu với giá trị thời gian của bạn và với mức giảm thời gian trống mà họ thực sự tạo ra.
Doanh thu gộp thường cao hơn nhưng chi phí vận hành, hao mòn và công sức cũng cao hơn nhiều, chưa kể quy định của toà nhà và địa phương. Nên tính bằng dòng tiền ròng trong cả năm thay vì so giá theo đêm với giá theo tháng.
Vay làm tăng lợi nhuận trên vốn tự có khi mọi thứ thuận, nhưng cũng khiến một giai đoạn trống kéo dài trở thành áp lực thật. Nguyên tắc an toàn là dòng tiền vẫn dương ở kịch bản lãi suất cao hơn và thời gian trống dài hơn dự kiến.
Phần lớn người bán chỉ bắt đầu hành động vào ngày quyết định bán, và đó là lý do họ phải giảm giá. Bài này dựng lộ trình sáu tháng để tài sản sẵn sàng
Ngoài nhà ở, còn một nhóm tài sản ít được bàn nhưng có dòng tiền tốt hơn: mặt bằng bán lẻ, kho xưởng nhỏ và văn phòng. Bài này so ba loại theo dòng ti
Giá mua được bàn rất kỹ, còn chi phí giữ thì gần như không ai nhắc. Bài này liệt kê đủ các khoản phải trả trong suốt thời gian nắm giữ, và chỉ ra vì s
Ba loại tài sản này thường được xếp chung là bất động sản rồi so với nhau bằng giá và tiềm năng tăng. Thực ra chúng khác nhau ở cấu trúc giá trị, chi
Nơi người Việt có điều kiện tìm hiểu về quản lý tài sản, đầu tư quốc tế, giáo dục cho con và chuẩn sống toàn cầu.