
Cho con đi du học là một trong những quyết định tốn kém nhất mà một gia đình đưa ra, và cũng là quyết định hay được tính thiếu nhất — không phải vì ai đó giấu, mà vì phần lớn chi phí nằm ngoài hai dòng mà ai cũng nhìn: học phí và tiền ăn ở.
| Nhóm | Thường bị bỏ sót |
|---|---|
| Trước khi đi | Thi chứng chỉ và thi lại, phí nộp hồ sơ nhiều trường, dịch thuật công chứng, khám sức khoẻ, phí thị thực, vé máy bay |
| Học phí | 🔴 Mức tăng hằng năm, phí cơ sở vật chất, phí bắt buộc theo kỳ, giáo trình |
| Chỗ ở | Tiền đặt cọc, phí môi giới, chi phí mùa hè khi ký túc xá đóng cửa |
| Sinh hoạt | Bảo hiểm y tế bắt buộc, đi lại, điện thoại, quần áo mùa đông ở xứ lạnh |
| Khác | Vé về thăm nhà, gia hạn thị thực, chi phí khi ốm, khoản dự phòng |
| Hao khi chuyển tiền | Chênh lệch tỷ giá và phí chuyển, nhân với số lần chuyển trong nhiều năm |
🔴 Hai dòng có dấu đỏ là hai chỗ làm lệch kế hoạch nhiều nhất. Học phí tăng mỗi năm thì tới năm cuối con số đã khác hẳn năm đầu; còn hao khi chuyển tiền thì nhỏ ở mỗi lần nhưng cộng dồn qua bốn năm là một khoản thật.
Một suất học bổng bán phần nghe rất hấp dẫn, nhưng cần đọc ba điều:
Phần lớn gia đình Việt cho con đi học với một giả định ngầm: học xong con sẽ về. Nhưng thực tế, một tỷ lệ đáng kể du học sinh ở lại — không phải vì phản bội gì, mà vì sau bốn năm con đã có bạn bè, có công việc, có một cuộc đời ở đó.
Nếu con không về, kế hoạch của gia đình có đổi gì không? Đây là câu hỏi tài chính chứ không phải câu hỏi tình cảm, và nó đáng được đặt ra trước khi đi chứ không phải sau khi tốt nghiệp:
⚠️ Nói chuyện này trước khi con đi thì nó là một cuộc bàn bạc; nói sau khi con đã quyết ở lại thì nó thành một cuộc tranh cãi.
Một du học sinh mười tám tuổi đột nhiên phải tự làm tất cả: nấu ăn, quản lý tiền, đi khám bệnh, xử lý giấy tờ, và chịu đựng những tháng đầu rất cô đơn. Gia đình có điều kiện thường chuẩn bị rất kỹ phần tiền và rất sơ sài phần này.
Vài việc nên làm trong năm trước khi đi:
Quỹ dự phòng riêng cho tình huống bất thường: con ốm nặng, cần về gấp, phải chuyển trường, hoặc gia đình cần bay sang. Khoản này nên tách hẳn và không đụng tới trong bất kỳ trường hợp nào khác.
Nó gần như luôn bị bỏ qua, và gần như lần nào cần tới cũng là lúc không xoay kịp.
Ở mức giờ giấc được phép và có kiểm soát thì thường không, và nó còn giúp con hoà nhập cũng như hiểu giá trị đồng tiền. Vấn đề phát sinh khi con làm vượt mức cho phép để bù chi phí, vì lúc đó vừa ảnh hưởng việc học vừa có thể ảnh hưởng tới điều kiện lưu trú.
Chuyển theo kỳ tiết kiệm phí hơn nhưng đòi hỏi con đã biết quản lý ngân sách dài. Cách dung hoà thường dùng là chuyển học phí theo kỳ và sinh hoạt phí theo tháng trong năm đầu, rồi giãn dần khi con đã quen.
Học phí chỉ là một phần; chi phí sinh hoạt, quyền đi làm thêm và cơ hội ở lại sau tốt nghiệp thường ảnh hưởng tới tổng chi phí nhiều hơn. Nên so sánh theo tổng chi phí cả chặng thay vì so từng dòng riêng lẻ.
Nên tìm hiểu xem đổi ngành làm kéo dài thêm bao lâu và phát sinh thêm bao nhiêu, rồi bàn với con trên số liệu đó. Ép con học tiếp ngành không phù hợp thường tốn kém hơn nhiều so với chấp nhận thêm một năm, vì kết quả cuối cùng là một tấm bằng không được dùng tới.
Gia đình có điều kiện dễ rơi vào tình trạng lịch của con kín hơn lịch của bố mẹ. Bài này đưa ra cách đánh giá từng khoản chi ngoài trường học, và dấu
Người đã thành công thường ngừng học một cách lặng lẽ, vì không còn ai bắt và cũng không còn thấy cần. Bài này bàn về việc học ở tuổi trung niên: học
Với gia đình có điều kiện, việc con không muốn học đại học thường bị coi là thất bại. Bài này nhìn lại giả định đó, và bàn về cách đánh giá một con đư
Giáo dục là khoản chi lớn nhất và dài nhất của một gia đình sau nhà ở, nhưng hầu hết vẫn trả theo từng kỳ bằng thu nhập của tháng đó. Bài này nói về c
Nơi người Việt có điều kiện tìm hiểu về quản lý tài sản, đầu tư quốc tế, giáo dục cho con và chuẩn sống toàn cầu.